| rươi | dt. (động) Loại côn-trùng có nhiều chân ở ruộng, do rạ mục sinh ra, ăn được: Chả rươi, mắm rươi; Kẻ ăn rươi, người chịu bão // (R) Được ví với những gì thật đông, thật nhiều: Thiên-hạ như rươi, chết như rươi; Tiểu-hầu thầy tớ một đoàn như rươi NĐM. |
| rươi | - đ. Loài giun nhiều tơ, sinh từng mùa ở vùng nước lợ. |
| rươi | dt. Giun chân đốt, thân nhiều tơ nhỏ, ở vùng nước lợ, sinh theo mùa, có thể ăn được: mắm rươi o trộm cắp như rươi. |
| rươi | dt Thứ giun sinh theo mùa ở vùng nước lợ, có thể ăn được: Rươi còn tươi, lúc nhúc đến lưng thúng (Ng-hồng); Thả vỏ quít ăn rươi (tng); Trộm cắp như rươi (tng); Kẻ ăn rươi, người chịu bão (tng). |
| rươi | dt. Loại côn-trùng ăn được có nhiều chân, sinh có mùa: Tháng chín mưa rươi, Tháng mười mưa mộng (T.ng) |
| rươi | .- d. Loài giun nhiều tơ, sinh từng mùa ở vùng nước lợ. |
| rươi | Giống côn-trùng ăn được, có nhiều chân, sinh từng mùa ở những ruộng có nước mặn, nước ngọt ra vào. Văn-liệu: Kẻ ăn rươi, người chịu bão (T-ng). Tháng chín mưa rươi, Tháng mười mưa mộng (T-ng). Tiểu hầu thầy tớ một đoàn như rươi (Nh-đ-m). |
Ăn rươi chịu bão cho cam Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều. |
Bất kì sớm tối chiều trưa Mưa khắp Hà Nội mưa ra Hải Phòng Hạt mưa vừa mát vừa trong Mưa xuống Hải Phòng , mưa khắp mọi nơi Hạt mưa chính ở trên trời Mưa xuống Hà Nội là nơi cõi trần Tháng giêng là tiết mưa xuân Tháng hai mưa nụ ái ân ngọt ngào Tháng ba là tiết mưa rào Tháng tư mưa đó lọt vào lúa chiêm Tháng năm là tiết mưa liền Tháng sáu là tiết mưa trên đỉnh đầu Tháng bảy là tiết mưa Ngâu Tháng tám mưa giỗ lúa đầu tốt tươi Tháng chín là tiết mưa rươi Tháng mười mưa rạ cúc thời nở hoa. |
| Ới ơi những người lỡ hội chồng con , có phải đến tháng này , ở Bắc Việt , cái gió lạnh mới về ấy thấm vào da thịt , len lỏi tới sâu thẳm của tâm hồn , nó làm cho người buồn dằng dặc , tự nhiên cảm thấy thèm khát yêu đương hơn cả bao giờ hết phải không ? Nhìn ra thì thấy cái gì cũng vẫy chào , hẹn hò nhau , cái gì cũng tơ hồng quấn quít , cái gì cũng đủ lứa no đôi ; hồng thì có cốm đẹp duyên , buổi thì có lòng ân ái , gió bấc có mưa phùn , cam vàng có quít xanh , ăn cái rươiươi thế nào cũng phải có vỏ quít mới dậy mùi , thế thì tôi đố ai cầm lấy chén cơm mới đưa lên môi mà lại không nghĩ ngay đến chim ngói nhồi củ cải , thịt ba chỉ , hạt sen và miến ? Ghê cho các loài cây sao mà đến tháng này thấy hoa rét trở về cũng như cảm thấy thèm thuồng ôm ấp , để cho đỡ lạnh lùng. |
| Ai ăn nhiều mà đầy dạ bụng , khó tiêu cứ lấy vỏ quít kinh niên sắc lên mà uống ; nhưng ăn rươi mà dùng vỏ quít phơi khô không sướng bằng dùng vỏ quít tươi mới lột ra , thái như sợi chỉ. |
| Tài thế ! Chẳng cần nhiều chỉ một dúm thôi , cho varươiơi tráng trứng , rươi mắm , rươi nấm với củ cải theo kiểu tam xà đại hội hay là rươi xào xâm xấp nước với củ niễng , rắc mấy cọng mùi lên trên , tự nhiên rươi dậy hẳn mùi. |
| Thiếu vỏ quít , nhất định không phi là rươi nữa cũng như non thiếu nước , trăng thiếu hoa , gái thiếu trai , nhất định không có cách gì tạo nên được bài thơ ý nhị ! Thế nhưng mà quái , làm sao đến tháng chín , có nhiều cái thú ý nhị thần tiên thế nhỉ ? Đã cốm với hồng , đã vỏ quít với rươi , lại còn gạo mới chim ngói nữa. |
* Từ tham khảo:
- rươi xào củ niễng
- rười rượi
- rưởi
- rưỡi
- rưới
- rượi