| ngàn dâu | dt. C/g. Phù-tang, đám dâu to và rậm như rừng: Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai (CD). // (B) Chân trời, nơi xa-xôi: Ngàn dâu vời-vợi. |
Tôi ra đứng ở đầu làng Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa. |
| Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại non còn đứng không Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Xương mai một nắm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương Trời tây ngả bóng tà dương Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha Non cao tuổi vẫn chưa già Non thời nhớ nước , nước mà quên non Dù cho sông cạn đá mòn Còn non , còn nước , hãy còn thề xưa Non xanh đã biết hay chưa Nước đi ra bể lại mưa về nguồn Nước non hội ngộ còn luôn Bảo cho non chớ có buồn làm chi Nước kia dù hãy còn đi ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui Nghìn năm giao ước kết đôi Non non nước nước không nguôi lời thề. |
| Một đêm thấy Hàn Than hiện đến bảo rằng : Thiếp buổi trước ngàn dâu xế bóng , cửa Phật nương mình , đáng cười thay chưa dứt lòng trần , thêm ngán nỗi còn vương nợ nghiệt , đài Dao mệnh dứt , đến nỗi chia bày , sống còn chưa được thỏa yêu đương , chết xuống sẽ cùng nhau quấn quýt. |
| ngàn dâu tả tơi , rách nát , những nong tằm vàng óng tan tác trong cơn hấp hối. |
* Từ tham khảo:
- kinh nguyệt
- kinh niên
- kinh phí
- kinh phong
- kinh phương
- kinh qua