| kinh thư | dt. Một trong Ngũ-kinh do đức Khổng-tử sưu-tập và lựa-chọn, trong ấy chép điển, mô, huấn-cáo, thệ, mệnh của các vua tôi bên Tàu từ đời Nghiêu Thuấn đến Đông-Châu. |
| kinh thư | Tên một tập sách do đức Khổng-Tử sưu-chép điển (phép tắc) mô (mưu kế) huấn (lời dạy dỗ) cáo (lời truyền bảo) thề (lời răn bảo tướng-sĩ) mệnh (mệnh lệnh) của các đời vua bên Tàu từ Nghiêu; Thuấn đến Đông-chu, khoảng năm 2357 đến 711 trước kỷ-nguyên. |
| Trương Hoa mời Trung ra làm quan , ông nói : Ta còn đương lo con sóng rớt ở cái vực sâu kia tràn đến , há lại còn xắn áo mà lội nữa ử Thiên Dân chinh trong kinh thư có câu : Hỏa viêm Côn sơn , ngọc thạch câu phần , nghĩa là : Lửa đốt núi Côn , ngọc đá đều cháy , (Núi Côn Sơn có tiếng sản sinh ra ngọc quý. |
| Các gã nếu chẳng phải yêu núi ma rừng thì sao nói năng được nhọn sắc như vậy ! Hai người giận mà nói : Ông là thủ tướng đáng lẽ nên tiến dẫn nhân tài để làm đồ dùng cho quốc gia , cớ sao lại ghen người hiền , ghét người tài , há phải là cái nghĩa ở trong kinh thư đã nói : "Kẻ khác có tài , coi như ta có !". |
| 2 kinh thư chép vua Nghiêu sai Hy Thúc đến ở Nam Giao (Hy Thúc trạch Nam Giao). |
| Khổng An Quốc thời Tây Hán chú giải kinh thư , chỉ cho Nam Giao là phương Nam. |
| 3 Theo thiên Vũ Cống trong kinh thư , chín châu là Ký , Duyện , Thanh , Từ , Dương , Kinh , Dự , Lương Ung. |
| 275 Nguyên văn : "Ngũ phục" , chữ dùng trong kinh thư , chỉ năm vùng theo thứ tự xa cách kinh kỳ (hầu , diện , tuy , yêu , hoang). |
* Từ tham khảo:
- thứ phòng
- thứ sáu
- thứ sinh
- thứ sử
- thứ thất
- thứ thiệt