| cánh gà | dt. Cánh con gà. // (R) Nh. Cánh én. |
| cánh gà | dt. Vật làm bằng các tấm vật liệu mỏng, dùng để che chếch hai bên giống như cánh con gà xoè ra: cánh gà sân khấu o xích lô che cánh gà. |
| cánh gà | dt 1. Vải dày che hai bên xe ở dưới mui: Trời mưa, phải mắc cánh gà vào xe xích-lô 2. Khung vải che hai bên sân khấu: Đứng sau cánh gà nhắc vở kịch. |
| cánh gà | dt. Cánh con gà. Ngr. Diềm, tấm phủ hai bên xe để che mưa. |
| cánh gà | d. Vật dụng bằng tre, nứa, cói hoặc vải để che ở hai bên: Cánh gà xe; Cánh gà sân khấu. |
| cánh gà | Cái đồ để che hai bên, làm bằng tre nứa cói vải v.v.: Trời mưa thì xe phải có áo tơi, cánh gà. |
| Cũng như món cánh gà rán tẩm bột của cô. |
| Nàng đành cố bạo dạn hỏi : Có những món gì , bác ? Người chạy bàn chống hai tay ngửa mặt nhìn lên trần nói : cánh gà rán này... Cá sông cả con này... Các loại cháo dùng buổi sáng này... Liên bỗng ngắt lời : Cánh gà rán thì bao nhiêu ? Bán ra làm sao ? Bảy hào nửa đĩa. |
| Người ta ăn xong , còn thừa dăm miếng cổ cánh , bà phải co kéo gắt gỏng mãi con mẹ mới chịu vào bếp húp nửa bát canh bí , và nhai cái đầu và cánh gà. |
| Cá làm thành bao nhiêu món , cá tạo nên bao nhiêu là bài thơ , nhưng chỉ lạ có một điểm là làm sao không ai làm chả cá để đến nỗi phải đợi sau khi di cư đến bảy tám năm trời mới có hai ba nhà làm món ấy để cho các ông ghiền món ăn này “xài đỡ” ! ? Đi chơi mười một quận đô thành , đi khắp cả các Vàm Đông , Vàm Láng , Vàm Tây , Bãi Xầu , Sóc Trăng , Bạc Liêu xưa kia nổi tiếng về nghề đóng đáy thả lưới , quăng chài để bắt cá bắt tôm mà cũng nổi tiếng luôn là có nhiều các chú : Bạc Liêu nước chảy lờ đờ , Dưới sông cá chốt , trên bờ Triều Châu thật quả tôi chưa thấy một người Tàu nào làm chả cá trong khi bao nhiêu món ăn Bắc như phở , bánh dẻo (1) , thang , cuốn , thịt cầy , lươn , ếch , họ đều làm tuốt để bán cho người mình thưởng thức ! Tại chả cá khó làm ? Tại có một bí quyết riêng ướp chả ? Hay tại vì cá anh vũ dùng làm chả không ở đâu có ngoài Bắc Việt ? Điều đó chưa có người nào nghiên cứu nhưng hồi còn ở Hà Nội , mỗi khi ngồi tán chuyện gẫu với Hy Chả Cá (2) mà thấy có những người Tàu ở Hồng Kông về đặt mua cả trăm cả ngàn “gắp” với đủ rau , hành , nước mắm , bánh đa , cà cuống , mắm tôm , chanh ớt để đưa lên máy bay chở hoả tốc về Hồng Kông ăn nhậu thì tự nhiên mình cũng thấy sướng tê tê vì người mình đã sản xuất được một món ngon đặc biệt mà chính ba tàu nổi tiếng là nước “kén ăn” cũng phải mua của ta để xài ! Nghĩ như thế rồi ăn một bữa chả thật ngon , được chủ nhân để dành cho vài chục gắp “lòng” , chan mỡ nước kêu lách tách , rồi uống nước trà mạn sen , ăn một miếng trầu nóng ran cả người lên , đoạn đi ngất ngưởng trong gió lạnh , tìm một cái xe bỏ cánh gàcánh gà trực chỉ Khâm Thiên hay Vạn Thái nghe một vài khẩu trống , không , anh phải nhận với tôi là cái bọn tiểu tư sản sống vô bổ và đầy tội lỗi thực đấy nhưng sướng lắm – sướng không chịu được. |
| Không phải là thi sĩ , nhưng vào những buổi chiều tháng mười một ở Hà Nội , người nào cũng muốn làm thơ : trời lạnh có gió mưa , nghe tiếng rao sì cốc bểu là một loại bánh cuốn hấp , người ta cũng thấy có một cái gì gợi cảm ; cái xe tay trùm áo tocánh gàgà cũng có thể là một đề tài để cho người đa tình suy nghĩ hay một cái quán bên đường he hé mở để cho người đi qua nghe thấy một cái lò than hồng tráng bánh cuốn có mấy người ngồi ăn trong làn khói mờ mờ như sương cũng có thể làm cho ta tưởng tượng bao nhiêu cuộc hợp hoan chờ đợi… Rét lắm , anh ơi , thôi đi về , anh nhé. |
| Người ta ăn xong , còn thừa dăm miếng cổ cánh , bà phải co kéo gắt gỏng mãi con mẹ mới chịu vào bếp húp nửa bát canh bí , và nhai cái đầu và cánh gà. |
* Từ tham khảo:
- cánh gà chiên giòn
- cánh gián
- cánh giàng
- cánh giống
- cánh hẩu
- cánh hoa tàn