| Chắp cánh liền cành | - Tức Tỷ dực liên chi, Nói việc vợ chồng gắn bó thương yêu lâu dài, mãi mãi có nhau - Bạch Cư dị: Tại thiên nguyện tác ly dực điểu, Tại địa nguyện vi liễm ký chí. (Trên trời nguyện làm chim liền cách, dưới đất nguyện làm cây liền cành) - Sưu thần ký: Hàn Bằng làm quan đại phu nước Tống, vợ là Hà Thị sắc đẹp hơn người bị tên hôn quân Tống Khang Vương cướp đi mất. Hà thị bí mật để lại cho Hàn Bằng bức thư tỏ ý liều chết. Khang Vương cầm tù Hàn Bằng, Hàn Bằng tự sát. Hà thị biết chuyện bèn ngầm bận áo đẹp cùng Khang Vương lên đài cao chơi rồi bất thình lình lao mình xuống tự tử. Hà thị có để lại thư xin cùng được chôn chung với Hàn Bằng. Tên hôn quân căm giận sai chôn Hà thị ở chỗ khác đối diện mộ Hàn Bằng. Qua một đêm bổng mộ nào cũng có cây Tử mọc lên, rễ liền nhau ở dưới, ngọn cành liền nhau ở trên, thường có đôi chim uyên ương đến đậu, tiếng hót rất thảm thiết - Truyện khác: Trương Liêm Xuân ở Dương Châu lấy Tào Bích là người cùng làng. Giặc đến, hai vợ chồng chạy trốn bị rơi xuống hồ chết. Năm sau, ở hồ ấy mọc lên 2 hoa sen cùng chung một đài - Sách Kinh Nhã nói ở phương Nam có giống chim chỉ có một mắt, một cánh nên 2 con phải chắp cánh lại để bay - Cung oán ngâm khúc - Tranh tỷ dực nhìn ra chim nọ - Đồ liên chi lần trỏ hoa kia |
| chắp cánh liền cành | (Vợ chồng) gắn bó, sống bên nhau suốt đời (gốc ở bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị với hình ảnh tỉ dục điểu nghĩa là chim chắp cánh và liên lí chi nghĩa là cây liền cành để nói là dù ở trên trời hay ở dưới đất thì vợ chồng vẫn luôn ở bên nhau: Trong khi chắp cánh liền cành, Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên (Truyện Kiều). |
| chắp cánh liền cành | ng Nói tình nghĩa gắn bó với nhau: Trong khi chắp cánh liền cành, mà lòng rẻ rúng đã dành một bên (K). |
| chắp cánh liền cành | Nói tình nghĩa gắn bó giữa trai và gái. |
Từ điển là loại sách có chức năng xã hội rộng lớn. Nó cung cấp vốn từ ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, giúp cho việc học tiếng mẹ đẻ và học ngoại ngữ, mở rộng vốn hiểu biết của con người về sự vật, khái niệm trong thế giới tự nhiên và xã hội. Từ điển là một sản phẩm khoa học có tác dụng đặc biệt đối với sự phát triển văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí và mở rộng giao lưu giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau. Từ điển là sách công cụ, kho cứ liệu chuẩn mực, tin cậy để tra cứu, vận dụng chính xác từ ngữ, khái niệm cần tìm.
“Từ điển tiếng Việt” là từ điển giải thích tiếng Việt; là loại sách tra cứu cung cấp thông tin về các từ ngữ, từ điển có chức năng xã hội rất rộng. Bên cạnh việc cung cấp vốn từ ngữ và cách sử dụng chúng trong giao tiếp, học tập tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, góp phần chuẩn hóa ngôn ngữ cũng như công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, từ điển còn giúp mở rộng hiểu biết của con người về sự vật, khái niệm.
Từ điển cũng có tác dụng lớn đối với sự phát triển của văn hóa, giáo dục, đối với việc nâng cao dân trí, đối với sự phát triển của bản thân ngôn ngữ và việc mở rộng giao lưu giữa những cộng đồng ngôn ngữ khác nhau. Cần phải quảng bá, phổ biến để dân biết lựa chọn những cuốn từ điển có chất lượng, dần tạo thành thói quen tra cứu từ điển của mọi người. Từ đó mới phát huy vai trò của từ điển trong sử dụng ngôn ngữ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Các cuốn từ điển tra cứu ở đây, được tham khảo từ các nguồn từ điển:
* Từ điển - Lê Văn Đức.
* Từ tham khảo:
- chắp mối chỉ hồng
- chắp mối dây tơ
- chắp mối duyên lành
- chắp mối lương duyên
- chắp mối tơ duyên
- chắp mối xích thăng