| bánh giầy | dt. Bánh có hình tròn khum khum, màu trắng, rất dẻo, mịn mặt, làm bằng xôi trắng giã nhuyễn, khi ăn cặp với giò, chả (theo truyền thuyết, bánh giầy tượng trưng cho trời, thường làm loại to vào dịp tết lại (rằm tháng giêng), ngày thường làm nhỏ hơn bằng khoảng một nửa). |
| bánh giầy | dt Bánh làm bằng xôi giã thực mịn, có thứ không có nhân, có thứ nhân bằng đậu xanh: Xưa làng Đồng-kị có lệ thi bánh giầy trong ngày lễ hội. |
| bánh giầy | d. Bánh làm bằng xôi giã thực mịn. |
Buổi tối , tiếng còi tàu thúc giục , tiếng rao bánh giầy bánh giò lanh lảnh , tiếng cười nói , gọi nhau om sòm của hành khách , tiếng khuân vác huỳnh huỵch của bọn phu gạo tải hàng , lên tàu hay xuống bến. |
Cậu chết mợ ra người dưng bánh giầy phải lửa thời sưng phồng phồng. |
| Nhưng bánh này ngon và được chuộng , một phần lớn cũng vì có bánh giầy cắt nhỏ thứ bánh giầy mơ , ăn mềm mà có rắc đậu ở trên mặt , chứ không phải là thứ bánh giầy to , nhẵn , bóng những mỡ , rất phổ thông hiện giờ , mà người ta vẫn gọi là bánh dầy Quán Gánh. |
Thứ bánh giầy Mơ này bây giờ ít thấy , ngày trước bán một xu hai chiếc , và có hai thứ nhân : đậu hay đường. |
Trong bánh khoái nóng hổi , người ta cắt mấy miếng bánh giầy Mơ : trộn đều lên cho bánh khoái và bánh giầy hợp hoan với nhau rồi ăn , ta vừa thấy vui mắt (vì đậu vàng nổi lên như vị sen trong một cái ao trắng muốt) mà lại êm giọng , ngầy ngậy như mùi da thịt một đứa trẻ bụ bẫm , và bùi một cách thanh thanh. |
Cái thú ăn bánh khoái là nó nát mà chính lại ráo rẻ : nhởn nha xúc lên đầu đũa ăn từng miếng nhỏ , có vẻ như ăn một bát yến chay mà cái vị mặn của muối không có công dụng gì khác hơn là nâng cao chất bùi của đậu bánh giầy cho nó nổi lên , như một nghệ sĩ tài tình điểm một hai nét vàng vào một bức vẽ sương sớm cho nổi cảnh sắc u huyền , thơ mộng. |
* Từ tham khảo:
- bánh giòl
- bánh giò
- bánh gói
- bánh gối
- bánh hỏi
- bánh hỏi thịt nướng