| trượng | bt. X. Trọng:<> Trượng-nghĩa khinh tài; Chữ trung, chữ hiếu, chữ nào trượng hơn?// (R) trt. Nặng, quá lắm:<> Bị rầy trượng quá. |
| trượng | dt. Cây gậy, cây hèo:<> Tích-trượng, thiền-trượng.// Tội đánh bằng gậy (xưa):<> Phạt trượng, xử trượng. |
| trượng | dt. Đơn-vị 10 thước mộc:<> Mình cao một trượng.// đdt. Tiếng gọi kính người già:<> Lão trượng, ông trượng.// Giượng, tiếng gọi người đàn-ông lấy người đàn-bà có bà con với mình:<> Di-trượng, muội trượng, tỷ-trượng. |
| trượng | dt. Binh-khí, giặc-giã:<> Binh-trượng, nghi-trượng.// đt. Dựa vào kẻ khác:<> ỷ-trượng. |
| trượng | - Đơn vị đo chiều dài bằng mười thước ta (cũ): Biển sâu mấy trượng trời cao mấy trùng (Nhđm). - Gậy bằng gỗ (cũ). |
| trượng | dt. 1. Đơn vị độ dài bằng 10 thước (3,33m): dài nghìn trượng. 2. Đơn vị độ dài bằng bốn thước một (l,7m): cao hai trượng. 3. Tiếng tôn xung người đàn ông: trượng phu o đại trượng phu o lão trượng o phương trượng. |
| trượng | 1. Dựa vào: trượng nghĩa khinh tài. 2. Binh khí thời cổ. nghi trượng. |
| trượng | dt Đơn vị đo chiều dài bằng mười thước ta (cũ): Biển sâu mấy trượng trời cao mấy trùng (PhTr); Có trụ đá ở cao trót trượng (Trương Vĩnh Kí). |
| trượng | dt Gậy bằng gỗ hay bằng cây trúc do các cụ già dùng: Đại vương khi nhàn rê trượng trúc (PhKBính). |
| trượng | dt. Gậy, hèo. |
| trượng | dt. Đồ binh-khí làm bằng một cây dài. |
| trượng | 1. dt. Đồ dùng để đo, dài mười thước ta: Bể sâu mấy trượng, trời cao mấy trùng (Nh.đ.Mai). 2. Bậc già-cả: Lão-trượng. 3. Như tiếng dượng, chồng của em gái mình hay chồng của em gái cha mình. |
| trượng | .- Đơn vị đo chiều dài bằng mười thước ta (cũ): Biển sâu mấy trượng trời cao mấy trùng (Nhđm). |
| trượng | .- Gậy bằng gỗ (cũ). |
| trượng | I. Đồ dùng để đo, dài mười thước cổ: Người cao mấy trượng. Văn-liệu: Bể sâu mấy trượng, trời cao mấy trùng (Nh-đ-m). Công cao nghìn trượng, ơn dầy chín lăng ( L-V-T). Ngôi cao muôn trượng nghe gần tấc gang (C-H). II. Bậc già cả trên trước: Trượng-lão. |
| trượng | Gậy, hèo: Phạt đánh mười trượng. |
| trượng | Đồ binh-khí: Nghi-trượng. Bình-trượng. |
Ai ơi ! đừng vội chớ lo Khăng khăng giữ lấy trượng phu cho bền Ai ơi ! giữ lấy đạo hiền Trồng cây lấy đức , xây nền lấy nhân. |
Ai ơi đứng lại mà trông Kìa vạc nấu đó , kìa sông đãi bìa Kìa giấy Yên Thái như kia Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh Người đi kẻ lại như tranh hoạ đồ Cổng chợ có miếu thờ vua Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên Chùa Thiên Niên có cậy vọng cách Chùa Bà Sách có cây đa lông Cổng làng Đông có cây khế ngọt Con gái Kẻ Cót thì đi buôn xề Con trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa An Phú nấu kẹo mạch nha Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua. |
Bánh nhiều quá cũng kêu bánh ít Chuối non nhớt cũng gọi chuối già trượng phu đối được mới là đáng khen Canh chua lét sao kêu canh ngọt Cây cao nghệu cũng gọi cau lùn Đối chơi với bạn anh hùng hát bua ? BK Bánh dẫu nhiều , cũng kêu bánh ít Chuối còn non , sao gọi chuối già Nếu anh đối đặng mới là đáng khen Canh chua lét cũng kêu canh ngọt Cau cao nghệu sao gọi cau lùn ? Thuyền quyên mà có hỏi nữa , anh hùng cũng chẳng chịu thua. |
Cây cao mấy trượng cũng trèo Đường xa mấy dặm cũng theo anh về. |
| Các đô tranh giải không to béo như trâu trương , người nhung nhúc thịt là thịt , nhưng to lớn , trượng phu , cổ to , bắp thịt nổi cùng mình , đứng bái tổ mà người ta ngỡ là thần Dớt xuống trần hay Hách Cưu sống lại. |
| Nguyễn Huy Quýnh biết chuyện bèn viết thư hộ để kể lể sự tình : Trời làm chi cực bấy trời Cơi trầu này để còn mời mọc ai Tím gan đổ hắt ra ngoài Trông theo truông Hống đò Cài thấy đâu Khi lên đổ rối cho nhau Khi về trút một gánh sầu về ngay... Nguyễn Du cũng viết bài Thác lời trai phường nón để đáp lại : Giữa thềm tàn đuốc còn tươi Bã trầu chưa quét nào người tình chung Hồng Sơn cao ngất mấy trùng Đò Cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu Làm chi cắc cớ đến điều Mới đêm hôm trước lại chiều hôm nay... Lúc Nguyễn Du đang viết đây , dư âm tiếng hát xưa như còn văng vẳng bên tai : Tai nghe câu ví như ru Đêm thu để khiến nét thu ngại ngùng... Nhớ lại sau những đêm hát đối với cô gái phường vải , Nguyễn Du đã viết những lời thơ da diết : Tiếc thay duyên Tấn phận Tần , Chưa quen đã lạ , chưa gần đã xa. |
* Từ tham khảo:
- trượng nhân
- trượng phu
- trượt
- trượt băng
- trượt giá
- trượt tuyết