| lương tri | dt. Trí hiểu-biết về bên hay, bên tốt của con người, để tiếp-nhận những sự hay sự tốt từ ngoài vào, một trong ba chất của thiên-lương: Người biết việc tham-nhũng, gian-nịnh là ô-nhục mà vẫn làm, đó là người có lương-tri mà thiếu lương-tâm. |
| lương tri | - d. 1. Khả năng phê phán đúng và biết nhận định tinh vi, không thiên lệch, trước những vấn đề không giải quyết được bằng lý luận khoa học, kiến thức chuyên môn. 2. Nh. Lương tâm. |
| lương tri | dt. Khả năng nhận thức đúng, sai, phải, trái về lẽ sống, đạo đức: lương tri thức tỉnh. |
| lương tri | dt (H. lương: tốt lành; tri: biết) Khả năng phân biệt được cái tốt, cái xấu, cái phải, cái trái: Ai là người có lương tri đều phải công nhận nhân dân ta hết sức yêu chuộng hoà bình (Trg-chinh). |
| lương tri | dt. Trí-thức người ta vốn sẵn có, tự-nhiên mà có: Theo Vương Dương-Minh là người đã xướng ra thuyết lương-tri thì lương-tri là "cái tinh-linh của tạo-hoá phú bẩm cho người, kết-tinh lại ở trong tâm người ta. Cái tinh-linh ấy sinh ra trời đất, thành ra quỷ thần, nhất thiết, muôn sự, muôn vật đều ở đó mà ra. Nó cũng là vật, nhưng cao hơn hết thảy, chẳng có vật nào sánh với nó được... Bản-thể của tâm là thiên-lý mà chỗ thiêng-liêng sáng suốt của thiên-lý tức là lương-tri" Có người hỏi thêm Vương Dương-Minh: Loài người có thể-phách hư-linh mới có lương-tri, còn như thú vật, cỏ cây gạch đá có lương tri, không? Họ Vương đáp: "Thì chính lương-tri của ta, tức là lương-tri của cỏ cây gạch đá. Nếu cỏ cây gạch-đá chẳng có lương-tri của người ta thì hết còn là cỏ cây, gạch đá. Chẳng riêng cỏ cây gạch đá mà thôi, đến cả trời đất, nếu không có lương tri của chúng ta cũng không thể làm trời đất được" Muốn suy xét cho đến nơi, thông suốt, đạt đến cái lương-tri ấy, muốn trí lương-tri phải làm cách nào? Họ Vương đáp: "Muôn trí lương-tri, há phải là nói chuyện vang bóng mập mờ, không ngôn vô-thực mà bảo rằng trí lương-tri được đâu. Tất phải làm ra việc thực mới được. Cho nên trí tri phải ở cách vật. Vật nghĩa là việc. Phàm ý mình phát ra điều gì tất là có việc. Cái việc mà ý mình để tới đó gọi là vật. Cách nghĩa là chính; cách vật nghĩa là sửa cho thích-đáng việc mình làm. Một điều lương-tri biết là thiện, tuy rằng ta thật lòng ham chuộng, nhưng nếu không thực-hành ngay cái vật mà ta đã để ý vào thì vật ấy vẫn chưa được cách và lòng ham-chuộng vẩn chưa phải chân thành. Một điều gì lương-tri biết là ác, tuy rằng ta thật lòng ghét bỏ, song nếu ta không thực-hành ngay cái vật mà ta đã để ý vào thì vật ấy vẫn chưa được cách và lòng ghét bỏ vẩn chưa phải chân-thành. Tất nhiên, ta phải làm theo sự hiếu thiện ố ác do lương-tri đã biết, mà làm việc hiếu thiện ố-ác thật đến nơi đến chốn. Có như vậy, mới thật không có vật nào không cách mà cái biết của lương-tri mới trọn vẹn, không bị che lấp thiếu sót gì cả, ấy là đến chỗ cũng tốt vậy" Họ Vương còn giảng thêm: " Không thiện, không ác là thể của tâm; có thiện có ác là động của ý; biết thiện biết ác là lương-tri; làm thiện bỏ ác là cách vật" |
| lương tri | .- d. 1. Khả năng phê phán đúng và biết nhận định tinh vi, không thiên lệch, trước những vấn đề không giải quyết được bằng lý luận khoa học, kiến thức chuyên môn. 2. Nh. Lương tâm. |
| lương tri | Tri-thức tự-nhiên mà có: Vương Dương-minh nói cái chủ-nghĩa lương-tri. |
| Nhiều cuộc đời cô bầy ra tới chỗ khó khăn , nghĩa là tới chỗ mà lương tri của cô cho không thể có được , thì cô lại mỉm cười xoá bỏ đi để bầy lại cuộc đời khác. |
| Trở thành lương tri của xã hội cái điều nhiều cây bút thời nay trong thâm tâm cũng thấy đúng , nhưng lại cho là xa vời cao siêu quá chính là điều Nguyễn Minh Châu cảm thấy một cách máu thịt và muốn lấy cả đời văn của mình ra để thực hiện. |
Trong bài viết mang tên ý nghĩa phê bình văn học , Nhị Ca tóm tắt quan niệm phê bình văn học của mình như sau : "Từ trong nguồn gốc sâu xa của nó , sáng tác và phê bình chỉ là hai mặt nhất trí của một nhu cầu tinh thần : sáng tác là hành động , phê bình là nhận thức và lương tri của các hành động đó. |
Thật vậy , sau khi nói rằng sự làm người là nghiêm chỉnh , rằng chúng ta phải sống đúng sống tốt , như cái phần lương tri trong chúng ta vẫn yêu cầu , cuộc đời Nguyễn Tuân như còn muốn nhắn nhủ thêm một điều này nữa : muốn hay không muốn mỗi chúng ta đều là một thực thể đơn nhất , riêng biệt , không giống một ai khác và không ai thay thế nổi. |
| Ta cứ nói ta "là lương tri của thời đại" , nhưng sự thật thì nhiều việc , nhiều người chưa thể hiện được điều đó. |
| *** Như một người Việt Nam có llương tritôi không bao giờ tán thành việc sử dụng các sự kiện có tính chất trọng đại của đất nước , mang ý nghĩa lịch sử , ý nghĩa xã hội , hoặc sử dụng tên tuổi những người có công lao với quốc gia để quảng bá cho thương hiệu cá nhân hoặc công ty. |
* Từ tham khảo:
- lương y
- lương y kiêm từ mẫu
- lương y như từ mẫu
- lường
- lường
- lường gạt