| xài | đt. Mua-chác, ra tiền: Ăn xài, rộng xài, tiêu xài, túng xài, hết tiền xài. // Lưu-hành, có hiệu-lực trong việc đổi chác: Cuối tháng nầy, hết hạn xài giấy 500 đồng. // Dùng (đồ vật), sai khiến (người): Hết xài, khó xài; hư rồi, xài không được; tên đó, xài không vô; Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài. (CD). // Mắng-nhiếc, rầy-la: Xài một trận. // (lóng): Chơi, ăn-nằm, nói người đàn-ông từng giao-cấu với một người đàn-bà: Hình như nó có xài con nọ rồi! |
| xài | - 1 đgt., đphg 1. Tiêu: xài tiền ăn xài. 2. Dùng: Loại máy này xài rất bền xài hàng trong nước. - 2 đgt., khng. Mắng nhiếc, nói nặng lời: bị xài một trận. |
| xài | đgt. 1. Tiêu: xài tiền o ăn xài. 2. Dùng: Loại máy này xài rất bền o xài hàng trong nước. |
| xài | đgt. Mắng nhiếc, nói nặng lời: bị xài một trận. |
| xài | đgt Tiêu dùng: Cuối tháng, chưa lĩnh lương, không có tiền xài; Tính lão ta hay xài lớn. |
| xài | đgt Mắng thậm tệ: Đi chơi về bị bố xài cho một mẻ. |
| xài | đt. Tiêu dùng: Xài tiền như nước. Ngr. Dùng, giao-thiệp: Anh ấy hết xài. Đồ hết xài. (lái) La rầy: Bị xài đậm. |
| xài | .- đg. Tiêu dùng (thtục): Hết tiền rồi lấy gì mà xài. |
| xài | .- đg. Mắng nhiếc (thtục): Bị xài một trận. |
| xài | Tiêu dùng: Hết tiền xài. |
Số ông đưa tới chỗ có bạc xài. |
Mày muốn kiếm tiền xài không ? Thằng bé kéo tay tôi , bảo nhỏ. |
| Bà mẹ ăn xài hết nhẵn rồi lại còn giết con chó làm nhân bánh biếu sư. |
| Không chiều ý thì làm sao người chồng “lên cơn” bảo đưa tiền để tiexàiài một cách phi lí mà cũng cứ chịu liền ? Ấy là tại vì người vợ hiểu chồng quá đi rồi , biết là có tiền cũng chẳng đi cô đầu cô đít hay là trai gái phiện phò đâu , nhưng lại đi lên Nghi Tàm hay tạt về Ô Đống Mác mua cái đồi , hòn non bộ hay một cây thế lăng nhăng gì đó để ra ngắm vào ngắm rồi tưới , rồi sửa , rồi uốn , rồi bón , rồi hãm mất hết ngày. |
| Cá làm thành bao nhiêu món , cá tạo nên bao nhiêu là bài thơ , nhưng chỉ lạ có một điểm là làm sao không ai làm chả cá để đến nỗi phải đợi sau khi di cư đến bảy tám năm trời mới có hai ba nhà làm món ấy để cho các ông ghiền món ăn này xàiài đỡ” ! ? Đi chơi mười một quận đô thành , đi khắp cả các Vàm Đông , Vàm Láng , Vàm Tây , Bãi Xầu , Sóc Trăng , Bạc Liêu xưa kia nổi tiếng về nghề đóng đáy thả lưới , quăng chài để bắt cá bắt tôm mà cũng nổi tiếng luôn là có nhiều các chú : Bạc Liêu nước chảy lờ đờ , Dưới sông cá chốt , trên bờ Triều Châu thật quả tôi chưa thấy một người Tàu nào làm chả cá trong khi bao nhiêu món ăn Bắc như phở , bánh dẻo (1) , thang , cuốn , thịt cầy , lươn , ếch , họ đều làm tuốt để bán cho người mình thưởng thức ! Tại chả cá khó làm ? Tại có một bí quyết riêng ướp chả ? Hay tại vì cá anh vũ dùng làm chả không ở đâu có ngoài Bắc Việt ? Điều đó chưa có người nào nghiên cứu nhưng hồi còn ở Hà Nội , mỗi khi ngồi tán chuyện gẫu với Hy Chả Cá (2) mà thấy có những người Tàu ở Hồng Kông về đặt mua cả trăm cả ngàn “gắp” với đủ rau , hành , nước mắm , bánh đa , cà cuống , mắm tôm , chanh ớt để đưa lên máy bay chở hoả tốc về Hồng Kông ăn nhậu thì tự nhiên mình cũng thấy sướng tê tê vì người mình đã sản xuất được một món ngon đặc biệt mà chính ba tàu nổi tiếng là nước “kén ăn” cũng phải mua của ta để xài ! Nghĩ như thế rồi ăn một bữa chả thật ngon , được chủ nhân để dành cho vài chục gắp “lòng” , chan mỡ nước kêu lách tách , rồi uống nước trà mạn sen , ăn một miếng trầu nóng ran cả người lên , đoạn đi ngất ngưởng trong gió lạnh , tìm một cái xe bỏ áo tơi cánh gà trực chỉ Khâm Thiên hay Vạn Thái nghe một vài khẩu trống , không , anh phải nhận với tôi là cái bọn tiểu tư sản sống vô bổ và đầy tội lỗi thực đấy nhưng sướng lắm – sướng không chịu được. |
| * * * Về khuya trời rét ngọt , nằm trên một tấm nệm rồi trùm cái chăn lên trên mình nghe các em lẩy Kiều hay hát vo bài Tỳ bà , thỉnh thoảng lại làm một điếu , hãm một miếng táo hay một trái nho , rồi lim dim con mắt lại mơ mơ màng màng , tôi quả quyết với anh rằng cách mạng , đảo chánh , chống bất công xã hội… tất cả những cái đó anh đều cho là “đồ bỏ” không ăn nhằm gì hết ! Những lúc ấy mình mới mang máng thấy rằng những người làm chánh trị họ tâm lí thật : cái bọn “tạch tạch sè” chẳng làm được mẹ gì , còn những người cứu nước từ ngàn xưa như Phạm Ngũ Lão , Nguyễn Huệ , Lê Lợi… đều xuất thân là những nông dân áo vải… * * * Thôi , biết rồi ! Nghĩ lan man quá làm gì nó mất vui đi mà hại lây cả đến bữaxàiốc xài toàn hộp con rồng , đã đậm mà lại bùi như lạc. |
* Từ tham khảo:
- xài lớn
- xài phí
- xài quạu
- xài xạc
- xài xạc
- xài xể