| lòm lòm | tt. Hơi lòm: Chua lòm-lòm, đỏ lòm-lòm. |
| lòm lòm | pht. Thuần một màu hoặc một vị ở mức độ cao, kích thích mạnh vào các giác quan, gây ấn tượng không thích: Dưa muối lâu chua lòm lòm o máu chảy lòm lòm. |
| lòm lòm | trgt Nói màu đỏ sẫm: Một trái trăng thu chín mõm mòm, một vừng quế đỏ, đỏ lòm lòm (HXHương). |
| lòm lòm | trt. Nht. Lòm. |
| lòm lòm | Cũng nghĩa như “lòm”. |
Bắt cái , bắt cái này , hồ khoan ! Ai ơi chớ vội cười nhau Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành Hồ khoan ! Bắt cái , bắt cái này , hồ khoan ! Làm người mà chẳng biết suy Đến khi nghĩ lại còn gì là thân Hồ khoan ! Bắt cái ! Bắt cái ! Này ! Hồ khoan Con mẹ bán than Thì đen thui thủi Con mẹ bán củi Thì trắng phau phau Con mẹ hàng nâu Thì đỏ lòm lòm. |
Bớ cô chít khăn lòm lòm Chồng cô , cô bỏ , cô nom chồng người. |
| Nó còn tự động mang đi giặt cả chiếc áo bộ đội chú nhét vào khe cửa từ hôm nào đã chua lòm lòm. |
Để bù vào chỗ đó , bây giờ phố xá Hà Nội có những món ngon mới , hầu hết là lai Tây hay lai Tàu , như món thịt bò khô gồm đu đủ thái nhỏ , mùi và giấm , "lạp chín chương" , ăn vào thấy đủ các vị cay , chua , mặn , chát , món bánh "đùi gà" làm bằng bột mì và đậu xanh (rán mỡ) , món mơ , mận , táo , khế ngâm nước đường (áng chừng ăn vào mát giọng nói trơn như khướu !) ; món cháo tiết dùng với "dồi chao quảy" , một đồng một bát ; món bánh cari nếm thử một miếng cay cứ như nhai ớt ; món phở Lạng Sơn ăn chua lòm lòm... Hay lắm. |
| Nó còn tự động mang đi giặt cả chiếc áo bộ đội chú nhét vào khe cửa từ hôm nào đã chua lòm lòm. |
* Từ tham khảo:
- lỏm
- lỏm
- lỏm chỏm
- lỏm lẻm
- lỏm loi
- lỏm ngỏm