| ngâm khúc | dt. Bài văn vần tả cảnh với nhiều tình-cảm, thường làm theo thể song thất lục bát. |
| ngâm khúc | dt. Bài văn vần diễn tả nỗi buồn, thường theo thể song thất lục bát. |
| ngâm khúc | dt (H. ngâm: đọc ngân nga; khúc: bài hát) Bản văn thường tả nỗi buồn: Cung oán ngâm khúc. |
| Nhưng các cụ ăn tết Trùng cửu ở trên cao như thế thì vợ chồng mình một ngày trùng cửu xa xưa nào đó cũng bắt chước , trèo lên trên lầu , nhìn ra sông nước xa xa ngâm khúc hát tạ từ : Hôm nay có phải là thu , Mấy năm xưa đã phiêu du trở về , Cảm vì em bước chân đi Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn. |
| Từ các áng văn chính luận sắc bén chống giặc như Hịch tướng sĩ (thế kỷ13) của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (có câu Tắc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình , đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ ) hay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (thế kỷ 19) của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (có câu Hai vầng nhật nguyệt chói lòa , đâu dung lũ treo dê bán chó ) đến thơ ca lãng mạn trữ tình như bài Dê cỏn (thế kỷ 18) của bà chúa thơ Nôm nữ sỹ tài hoa Hồ Xuân Hương (Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ/ Lại đây cho chị dạy làm thơ/ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa/ Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa) hay thi phẩm Cung oán nngâm khúccủa văn thần Nguyễn Gia Thiều (có câu Phải duyên hương lửa cùng nhau/ Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào )... Còn trẻ em Việt Nam khi chơi trò dung dăng dung dẻ thường thuộc lòng bài đồng dao vui nhộn : Dung dăng dung dẻ/ Dắt trẻ đi chơi/ Đến cửa nhà trời/ Lạy cậu lạy mợ/ Cho cháu về quê/ Cho dê đi học/ Cho cóc ở nhà/ Cho gà bới bếp/ Ngồi xệp xuống đây. |
| Những đoạn ngâm Kiều cũng đa dạng , khi đậm chất ca trù , lúc ai oán kiểu nngâm khúc. |
* Từ tham khảo:
- ngâm ngâm
- ngâm ngẩm
- ngâm ngợi
- ngâm phong lộng nguyệt
- ngâm tôm
- ngâm vịnh