| hối đoái |
dt. (kinh) Đổi thứ tiền của nước mình để lấy thứ tiền của nước ngoài trong các công việc giao-dịch thương-mãi: Sự lên xuống của giá hối-đoái giữa hai thứ tiền của hai nước tuỳ theo ảnh-hưởng của cung và cầu nghĩa là tuỳ theo sự đòi hỏi nhiều hay ít về thứ tiền mà mình muốn đổi (muốn mua hay muốn bán). Về thực-tế, sự lên xuống ấy xảy ra trong hai trường-hợp: a) Trường-hợp của các nước có bản-vị vàng hay bạc, đối với các nước trên thì người ta định một bình-giá hối-đoái là bao nhiêu đó giữa đơn-vị tiền-tệ với kim-loại và cho đổi tự do các thứ tiền giấy của các nước trên đây cho họ được chuyên-chở các thứ tiền bằng kim-loại từ nước nầy qua nước kia; như vậy, có hai cách mà người ta thường làm: nếu việc chuyên-chở tiền vàng hay tiền bạc ra nước ngoài có lợi (phải cọng cả tiền phí-tổn chuyên-chở và tiền công đúc lại) thì người ta chở ra (Xt. Điểm xuất kim) nếu nhận mua tiền của nước ngoài vào xứ mình lợi thì lại chở vào (Xt. Điểm nhập kim). b) Trường hợp một nước có bản-vị vàng và một nước có bản-vị bạc. Đối với những nước trên đây thì cũng có thể chuyên-chở vàng hay bạc từ nước nầy qua nước kia tuỳ theo giá vàng đối với giá bạc đã định. ở đây, nước có bản-vị bạc tự nhiên là không có điểm xuất hay nhập kim nữa mà chỉ có điểm xuất hay nhập bạc mà thôi vì khi một nước có bản-vị bạc thì họ không đủ vàng để trả nợ nước ngoài, còn nước ngoài có mua đồ gì của nước ấy cũng thường trả bằng bạc mà thôi. Điểm-xuất hay nhập bạc thường không chừng nên hối suất chỉ tuỳ theo thời-giá của bạc mà thôi. Đối với các nước mà đồng tiền bị hạ giá quá (nạn lạm phát) thì hối-đoái lại phức tạp hơn nhiều. Một nước bị nạn lạm-phát (không đủ vàng để đổi cho tiền giấy) thì tự-nhiên là không có điểm xuất-kim vì, trong những nước ấy, vàng bị cấm chở ra ngoài. Hơn nữa, một nước bị lạm-phát thường đòn cân mậu-dịch bị nghiêng-ngửa, đồng tiền trong xứ không ai đòi hỏi, hối-suất vì thế, chênh-lệch rất nhiều. Sự buôn bán cũng trở nên khó-khăn. Trong trường-hợp trên đây, chính-phủ phải can-thiệp và kiểm soát hối-đoái và đặt ra một sở gọi là sở hối-đoái mục-đích là giữ đòn cân mậu dịch đừng nghiêng-ngửa thêm bằng cách kiểm-soát các cuộc xuất-nhập cảng hàng-hoá, nghĩa là phân phối tiền bạc mua bán cho đều đối với nhu-cầu trong xứ, khi cần phải tiêu-phí ngoại-tệ (căn cứ trên vàng). Thường như vậy, chính-phủ chỉ cho nhập-cảng bằng cách bù trừ với số hàng xuất-cảng, nghĩa là khi nào mua hàng-hoá ngoại quốc cũng phải bán một số hàng tương đương như vậy có chênh-lệch một ít trong số tiền về lối giao-dịch bù-trừ ấy, cần thiết lắm chính phủ mới cho chuyển-hoán số tiền phải trả ra ngoài. Số tiền ấy ở trong quỹ gọi là quỹ điều-chỉnh hối-đoái. Trong các báo hằng ngày thường hay để thời-giá hối-đoái, đó là thời-giá chính-thức của chính-phủ định về giá của một thứ tiền đổi qua một thứ tiền khác theo số vàng có ở trong mỗi thứ tiền ấy (do ngân hàng trử). // Quỹ điều-chỉnh hối-đoái. Nội-hối, đổi tiền bạc ở trong nước. Ngoại hối, đổi tiền bạc với nước ngoài. Thời-giá hối-đoái. |
* Từ tham khảo:
- hối đoái kì hạn
- hối đoái trực tiếp
- hối hả
- hối hận
- hối hôn
- hối lộ