| đã hay | tt Dẫu rằng đã biết là: Đã hay chàng nặng vì tình, trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru (K). |
| Chị ạ , thực trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay , một tí gì mà người ta không biết ? Người ta biết cả tên cái thằng quyến rũ nó là Lương đấy chị coi. |
Anh bắt tay em cho thoả tấm lòng Chừng nào nam đáo nữ phòng sẽ hay Anh cũng đã hay : Tôi ngay phò chúa thánh Gái chẳng lấy hai chồng Biết em buông mối chỉ hồng Tiếc anh đi chậm nên đứng ngoài phòng bơ vơ. |
BK Anh cũng đã hay : Tôi ngay phò chúa thánh Gái chẳng lấy hai chồng Biết em buông mối chỉ hồng Tiếc anh đi chậm nên đứng ngoài phòng bơ vơ. |
| Đáo để là cái giống chim này , sao mà thịt nó thơm , mà lại mềm đến cả cái xương , bồ câu , chim cu sao có thể đem ra mà ví được ? Chết , đem nó làm món gì cũng ngon chết người đi : Xáo với măng , lá lốt như kiểu sáo vịt đã hay , thái ra từng miếng nhỏ hấp với rau cải nõn lại càng ngon tệ , nhưng ngon vượt bực là đồ một chõ xôi “nếp cái mới” rồi úp mọt hai con chim ngói lên trên để cho mỡ nó nhuyễn vào xôi lấy ra ăn thập nóng , nhất định là c thế giới này không có một món ăn nào sánh nổi ! ấy chính là chim ngói ngon và quý một cách rùng rợn như thế cho đến mùa mà ăn ngay thì đắc tội với trời : không được ! Vì thế tất cả những gia đình có lễ giáo mỗi khi đến mùa chim ngói đều phải sửa lễ cúng trời đất , tổ tiên cùng với gạo mới vì cuối tháng tám đã gặt lúa mới , sang tháng chín gạo mới đã bắt đầu đem bán ở khắp nhà quê kẻ chợ. |
| Từ hồi bố còn bé tí đã hay theo bà nội lên chùa. |
| Quyên đợi Mỵ ở sân , kéo tay Mỵ ngồi xuống , thì thầm : Nè , Mỵ đã hay gì chưả Chưa. |
* Từ tham khảo:
- phàm danh tục lợi
- phạm lỗi
- phao truyền
- phạt vi cảnh
- phẩm tiên
- phân chim