| cá chép | - d. Cá nước ngọt thân dày, lưng cao và thường có màu sẫm, lườn và bụng trắng, vảy to, vây và đuôi rộng. |
| cá chép | dt. Cá nước ngọt, nuôi phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, sống được ở hầu hết các loại thuỷ vực vùng địa lí, phổ biến nhất là ởao, hồ, ruộng, thân dẹp bên, đầu thuôn, cân đối, có 2 đôi râu, vây đuôi chia 2 thuỳ gần bằng nhau, lưng thẫm, bụng trắng, thay đổi hình dạng, số lượng vảy và màu sắc (đỏ, trắng, tím...) theo điều kiện sống; còn gọi cá gáy, cá tói. |
| cá chép | dt Cá nước ngọt, thân dày, vảy to, vây và đuôi rộng: Ăn gỏi cá chép. |
| cá chép | d. Loài cá nước ngọt, mình giẹp, vảy to, lưng xanh đen, bụng trắng, hay sống từng đàn. |
Tuyết chạy theo lại hỏi : Cá gì vậy , mình ? Chương vừa lúng túng tháo con cá ở lưỡi câu , vừa trả lời : cá chép , mình ạ. |
Tuyết nói : cá chép béo ăn ngon lắm đấy. |
Về đến cổng Liên lẩm bẩm nói một mình : “Mình rõ hôm nay vận đỏ quá ! Mua được con cá chép vừa tươi , vừa béo thế này mà chỉ mất có hai hào. |
Bữa cơm hôm ấy Mai cố làm thật lịch sự , tuy chỉ có cơm hẩm và một con cá chép vừa nấu , vừa rán , bày trong một cái mâm gỗ sơn son , nhưng mà Lộc cho là xưa nay chưa được ăn chưa được ăn bữa cơm nào ngon miệng bằng. |
BK Bao giờ cá chép hoá rồng Đền ơn cha mẹ ôm bồng ngày xưa. |
| Muốn ăn cá chép phải đợi đến cuối tháng bảy sang tháng tám ; cá quả thì tết Trung thu ra ăn mới vừa miệng người sành ; còn cá rô Đầm Sét nổi thiếng là ngon thì đợi đến tháng một , tháng chạp ăn mới thật là đáo để. |
* Từ tham khảo:
- cá chép hoá long
- cá chép hoá rồng
- cá chét
- cá chét hầm vĩ
- cá chết vì mồi
- cá chỉ vàng